Khí hóa lỏng
Là hỗn hợp hydrocarbon nhẹ chủ yếu gồm propane và butane, có thể bảo quản và vận chuyển dưới dạng lỏng trong điều kiện áp suất trung bình ở nhiệt độ môi trường.
LPG được sử dụng chủ yếu làm chất đốt trong dân dụng và công nghiệp. Ngoài ra, LPG còn được sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ trong giao thông vận tải và còn là một nguồn nguyên liệu cho các nhà máy hóa dầu. Sản xuất và cung cấp LPG LPG sản xuất trong nước: Hiện nay, LPG do Nhà máy xử lý khí Dinh Cố sản xuất đáp ứng khoảng 30- 35% nhu cầu thị trường LPG Việt Nam. LPG được xuất đi với khối lượng lớn từ kho cảng Thị Vải bằng tàu và phân phối đến các khách hàng khắp cả nước hoặc xuất bằng xe bồn đến các khách hàng thuộc những khu vực lân cận. Sản phẩm LPG của nhà máy Dinh Cố đã được Quatest 3 cấp chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế ASTM D 1835-03.
Kể từ năm 2009, thị trường LPG Việt Nam có thêm nguồn cung LPG mới từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Theo đó sản lượng LPG sản xuất nội địa trong năm nay dự kiến sẽ đạt khoảng 400.000 tấn, đáp ứng khoảng 42% nhu cầu cả nước. Trong tương lai, nguồn cung LPG cho thị trường Việt Nam sẽ tăng thêm khi các dự án xây dựng nhà máy lọc dầu số 2, 3 và một số nhà máy lọc dầu khác được triển khai.
Các nguồn cung LPG cho thị trường LPG Việt Nam hiện nay: (Số liệu báo cáo đầu tư dự án Kho LPG lạnh tại Thị Vải của PV GAS)
Nhà máy GPP Dinh Cố (PV GAS): sản lượng LPG dự kiến năm 2009 sẽ đạt khoảng 270.000 tấn. Sản lượng LPG sản xuất trong các năm tới phụ thuộc nhiều vào khả năng cấp khí và tiến độ đưa khí vào bờ từ các mỏ mới thuộc bể Cửu Long thay cho nguồn khí Bạch Hổ đang giảm dần. Dự kiến sản lượng LPG Dinh Cố sẽ đạt khoảng 230.000 tấn vào năm 2010, giảm dần xuống còn 173.000 tấn vào năm 2015, tăng trở lại mức 279.000 tấn vào năm 2020 và đạt mức 230.000 tấn vào năm 2025.
Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã chính thức cung cấp LPG cho thị trường kể từ tháng 7/2009 với sản lượng khoảng 130.000 tấn trong năm 2009, các năm tiếp theo sẽ cung ứng cho thị trường khoảng 340.000 tấn/năm.
LPG nhập khẩu:Do nguồn LPG sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nên hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu thêm LPG từ các quốc gia lân cận như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc….và kể từ năm 2008 đã triển khai nhập khẩu LPG bằng tàu lạnh.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, nguồn cung LPG cho thị trường Việt Nam từ các nước trong khu vực Đông Nam Á ngày càng trở nên khan hiếm và không ổn định do ảnh hưởng của dao động về giá cũng như chính sách xuất khẩu của các nước trong khu vực.
Dự kiến trong tương lai, nguồn cung LPG nhập khẩu cho thị trường Việt Nam sẽ chủ yếu dựa vào nguồn xuất khẩu của các nước thuộc khu vực Trung Đông. Riêng thị trường Miền Bắc do liên quan đến yếu tố địa lý nên nguồn nhập khẩu chủ yếu sẽ là từ thị trường Nam Trung Quốc.
Nhu cầu thị trường:Về cơ bản, thị trường LPG Việt Nam được chia thành 3 vùng chính: Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam. Xét về nhu cầu tiêu thụ của từng vùng thị trường thì Miền Nam vẫn được xem là thị trường lớn nhất và có nhu cầu tiêu thụ cao nhất, chiếm khoảng 66% nhu cầu của cả nước, kế đến là Miền Bắc và Miền trung tương ứng chiếm khoảng 30% và 4%.
Theo số liệu của những nhà kinh doanh LPG, nhu cầu và mục đích tiêu thụ LPG tại Việt Nam có thể cơ bản chia thành 4 nhóm:
Dân dụng: Là các hộ gia đình sử dụng LPG làm nhiên liệu, chất đốt trong sinh hoạt theo hình thức sử dụng bình gas 12kg;
Các hộ tiêu thụ công nghiệp: Là các nhà máy sử dụng LPG làm nguyên/nhiên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất như các nhà máy sản xuất gốm, sứ, thủy tinh, gạch men… và các đơn vị sử dụng LPG làm nhiên liệu để chế biến thực phẩm, nông sản, thủy sản… Đây cũng là một nguồn tiêu thụ LPG quan trọng ở Việt Nam;
Thương mại: Chủ yếu là các khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí… sử dụng bình gas 45kg;
Giao thông vận tải: Sử dụng LPG làm nhiên liệu thay thế cho các nhiên liệu truyền thống như xăng, dầu. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay việc sử dụng LPG trong giao thông vận tại còn ở mức rất khiêm tốn.
Nhu cầu tiêu thụ LPG tại VN giai đoạn từ 1991-2008
|
Nhu cầu tiêu thụ LPG tại VN
giai đoạn từ 1991-2008
|
|
Năm
|
Tiêu thụ
(MT)
|
Tăng trưởng (lần)
|
Năm
|
Tiêu thụ
(MT)
|
Tăng trưởng (lần)
|
|
1991
|
400
|
-
|
2000
|
322.375
|
1,47
|
|
1992
|
2.000
|
5,00
|
2001
|
399.594
|
1,24
|
|
1993
|
5.000
|
2,5
|
2002
|
517.554
|
1,30
|
|
1994
|
16.330
|
3,27
|
2003
|
612.198
|
1,18
|
|
1995
|
49.500
|
3,03
|
2004
|
732.031
|
1,20
|
|
1996
|
91.000
|
1,84
|
2005
|
783.706
|
1,07
|
|
1997
|
130.000
|
1,43
|
2006
|
809.640
|
1,03
|
|
1998
|
171.013
|
1,32
|
2007
|
890.419
|
1,10
|
|
1999
|
218.689
|
1,28
|
2008
|
887.269
|
0
|
|
Tăng trưởng trung bình năm giai đoạn 1991-1999 (lần/năm)
|
1,47
|
|
Tăng trưởng trung bình năm giai đoạn 2000-2008 (lần/năm)
|
1,18
|
|