TỔNG CÔNG TY KHÍ VIỆT NAM
Năng lượng cuộc sống
Tin tức

                      PV GAS
Việt Nam chưa có hệ thống dự báo tràn dầu trên biển
3/1/2010 3:16:32 PM

Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờ, gây thiệt hại lớn về kinh tế, du lịch, môi trường. Cần thiết cần có hệ thống cảnh báo và ứng phó khi xảy ra sự cố tràn dầu, nhất là khi Việt Nam tham gia lộ trình hội nhập hàng hải quốc tế.

Theo PGS.TS Nguyễn Đình Dương (Trưởng phòng Nghiên cứu và Xử lý thông tin môi trường, Viện Địa lý, Viện KH&CN Việt Nam) để phát hiện dầu trên biển, có khá nhiều biện pháp như: Đi tàu quan sát bằng mắt, hay trên máy bay.

Nhưng biện pháp này chỉ áp dụng cho những tàu lớn va chạm mạnh, với vết dầu lớn mới dễ quan sát, nhưng dầu ô nhiễm theo kiểu súc xả trái phép, rất kho có thể phát hiện vì biển rộng lớn, mà tầm bay của máy bay ngắn, khó quan sát.

Hiện nay trên thế giới dùng tư liệu quan sát bằng vệ tinh để phát hiện dầu trên biển. Có 2 loại vệ tinh là Vệ tính Sóng quang học và vệ tinh Sóng siêu cao tần. Vệ tinh Sóng quang học nhìn được nhờ phản chiếu ánh nắng mặt trời lên bề mặt biển quan sát vết dầu. Nhưng hiện nay chưa có công cụ nào có thể đáp ứng được, vì thế không khả thi.

Do đó, các nước trên thế giới chủ yếu sử dụng vệ tinh Sóng siêu cao tần (bước sóng ngắn) dựa trên hiệu ứng sóng bề mặt. Các nhà phát hiện bằng cách, tại những nơi có dầu lan thường mặt biển không có sóng to hay bão lớn, mà bề mặt nước thường tĩnh lặng, ít nổi sóng hơn.

Tuy nhiên, phương pháp này chỉ phát hiện được khi vùng biển nào có sóng, ở 1 số vùng biển không sóng thì không thể thực hiện. Dù vậy, đến thời điểm này thế giới vẫn dùng vệ tinh Sóng cao tần.

Một số nước phát triển, sau khi dùng vệ tinh phát hiện vết dầu, sẽ đưa máy bay đến nơi quan sát, lấy mẫu dầu về nghiên cứu.

Ở Việt Nam, do chưa đủ điều kiện cơ sở vật chất, thiếu vốn đầu tư, các nhà khoa học sử dụng ảnh tư liệu từ vệ tinh MODIS của Trạm thu ảnh - Viện Vật lý, nhưng giải pháp này chỉ giúp phát hiện và dự đoán các vết dầu loang chứ chưa thể tìm ra nguyên nhân sự cố tràn dầu.

Lý do là ảnh vệ tinh MODIS là loại ảnh quang học, rất hạn chế trong việc theo dõi diễn biến dầu loang trên biển với điều kiện thời tiết nhiều mây mù che khuất như ở Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Đình Dương cho rằng, khu vực biển Đông Việt Nam có xác suất sảy ra sự cố tràn dầu tương đối lớn, trong tương lai nếu không có biện pháp xử lý sẽ rất nguy hại cho tài nguyên biển, tài nguyên sinh vật và cả du lịch. Vì thế, cần có biện pháp kỹ thuật kết hợp chế tài nhằm ngăn chặn tình hình tràn dầu trong khu vực Biển Đông Việt Nam.

Sau khi xảy ra sự cố tràn dầu nghiêm trọng ở bờ biển Miền trung vào năm 2007, Chính phủ mới khuyến khích và yêu cầu cần có hệ thống và công nghệ sử lý sự cố tràn dầu trên biển ở Việt nam.

Đáng chú ý là chương trình KC09.22/2006-2010 "Xây dựng cơ sở khoa học cho các công nghệ giám sát ô nhiễm dầu trên biển", sẽ dùng hình ảnh vệ tinh phát hiện cảnh báo, dự báo thời gian lan truyền của dầu bao lâu vào bờ, từ đó đưa ra khuyến cáo có nên ứng phó hay không, nếu đó là vết dầu nhỏ thì có thể bỏ qua, tuy nhiên nếu là vết dầu lớn sẽ huy động lực lượng tiến hành trục vợt, chặn từ ngoài xa.

Từ đó, sẽ có hệ thống bản đồ quan sát vùng phân bố tập trung dầu nhiều nhất để có biện pháp ứng phó kịp thời.

Được biết, các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này đang tiến hành mua tư liệu, mua ảnh vệ tinh, phần mềm xử lý ra vết dầu.

PGS.TS Nguyễn Đình Dương cũng khẳng định: "Tình trạng tràn dầu trên biển hoàn toàn có thể chấm dứt, như Nhật Bản, hay Singapore… Họ đưa ra luật môi trường rất khắt khe, và chế tài xử phạt mạnh, ý thức của người đi tàu nâng cao rõ rệt, nên hoàn toàn không có hiện tượng súc xả ra tự nhiên. Các nước này chỉ đưa máy bay đi kiểm tra khi có sự cố va chạm giữa các tàu".

Để khắc phục sự cố tràn dầu trên biển không chỉ cần kỹ thuật mà cần một chế tài chính trị hợp lý, có lực lượng công nghệ giám sát thường xuyên, tổ chức tốt. (Khoa Học & Đời Sống 1/3)